Tất tần tật về phỉ thuý

Câu 1: Nói một cách khoa học, ngọc cẩm thạch là gì?

Trả lời: Cẩm thạch, hay còn gọi là phỉ thuý được định nghĩa là hợp chất của pyroxene.

Câu 2: Ngọc hình thành trong bao lâu?

Trả lời: Khoảng 180 triệu năm. Bắt đầu từ khoảng kỷ Jura, mảng Miến Điện – Tây Tạng va chạm với mảng Á – Âu, tạo điều kiện cho sự phát triển của cẩm thạch.

Câu 3: Ba tính chất vật lý của ngọc cẩm thạch là gì?

Trả lời: Tất cả ngọc và đá quý trên thế giới đều có những tính chất riêng để xác định danh tính của chúng. Thế giới có rất ít loại ngọc có tính chất vật lý giống hệt nhau. Đấy là độ cứng, trọng lượng riêng và chiết suất. Cẩm thạch có độ cứng rơi vào 6.5 – 7.0, trọng lượng riêng là 3.33, chiết suất là 1.66.

Câu 4: Trung Quốc có ngọc cẩm thạch không?

Trả lời: Trong nhiều năm, nhiều chuyên gia đã dự đoán những khu vực có thể xuất hiện ngọc cẩm thạch ở Trung Quốc, tập hợp các nhà địa chất để tìm kiếm, nhưng cho đến nay vẫn không ghi nhận được kết quả.

Song, ở phần mở rộng về phía bắc từ vành đai mỏ cẩm thạch của Miến Điện, khu vực phía nam sông Nhã Lỗ Tạng Bố (Yarlung Tsangpo) ở Tây Tạng có điều kiện địa chất tương tự như ở Miến Điện, đây là nơi có triển vọng xuất hiện ngọc nhất.

Câu 5: Có phải ngọc cẩm thạch chỉ được khai thác ở Miến Điện?

Trả lời: Không phải, dù hơn 70% cẩm thạch trên thế giới được khai thác ở Miến Điện. Hầu hết ngọc cẩm thạch chất lượng cao đều đến từ Miến Điện nhưng ta có thể khai thác cẩm thạch ở nhiều nơi như Guatemala và Nhật Bản.

Câu 6: Ngọc tốt chỉ có ở Miến Điện, có phải vì chỉ có điều kiện địa chất của Miến Điện mới có thể tạo ra ngọc?

Trả lời: Đúng vậy, ngọc cẩm thạch yêu cầu điều kiện địa chất rất khắt khe, đòi hỏi áp suất cao và nhiệt độ thấp, cũng như nhiều yếu tố nghiêm ngặt khác, nhìn toàn bộ trái đất thì chỉ có Miến Điện là phù hợp nhất.

Câu 7: Miến Điện có bao nhiêu trữ lượng ngọc?

Trả lời: Theo thống kê, các mạch quặng nguyên sinh của Miến Điện dài khoảng 34 km và điểm rộng nhất khoảng 12 km, hầu hết các khu vực khai thác ngọc phỉ thuý đều nằm rải rác trên diện tích 3.000 km vuông. Chính phủ Miến Điện đã phải hạn chế khai thác quy mô lớn, trữ lượng thô hiện tại có thể được bán trong 5 năm với điều kiện kiểm soát chặt chẽ khối lượng giao dịch.

Câu 8: Cẩm thạch du nhập vào Trung Quốc từ khi nào?

Trả lời: Từ rất lâu trước khi con đường tơ lụa ở phía Bắc Trung Quốc phát triển, lục địa Nam Á đã khai thông một tuyến đường, tức Thục Thân Độc Đạo. Trên đường này, Đằng Xung là trạm dịch vô cùng quan trọng. Xuyên suốt các thời nhà Nguyên, Minh và Thanh, vùng sản xuất phỉ thuý ở miền bắc Miến Điện từng thuộc quyền quản lý của Trung Quốc trong một thời gian dài. Lịch sử cho rằng Đằng Xung giữ vị trí là trung tâm phân phối cẩm thạch. Người ghi chép sớm nhất về việc sản xuất và buôn bán ngọc ở Đằng Xung là Từ Hà Khách, một lữ khách sống tại thời nhà Minh. Ông đã chứng kiến sự kỳ vĩ của việc chế tác và buôn bán phỉ thuý ở Đằng Xung từ năm 1638 đến năm 1639 và viết nó trong cuốn “du kí” của mình. Vì vậy, việc du nhập ngọc sang Trung Quốc nên có trước thời của Từ Hà Khách. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, trong thời kỳ Vĩnh Lạc của nhà Minh (khoảng năm 1403), nhà Minh ổn định về xã hội, thịnh vượng về kinh tế nên đã mở rộng ra các vùng lân cận. Về sau, số lượng người làm trang sức từ ngọc cẩm thạch bùng nổ. Điều này đã thúc đẩy sự du nhập của phỉ thuý vào Trung Quốc, vì vậy cẩm thạch đã có mặt tại Trung Quốc hơn 600 năm.

Câu 9: Sự khác biệt giữa cẩm thạch và ngọc bích là gì?

Trả lời: Ngọc bích ở Trung Quốc được gọi là ngọc Hoà Điền, là loại ngọc có chất lượng tốt nhất xuất xứ từ vùng Hoà Điền, Tân Cương nên có tên như vậy. Khoáng chất này có thành phần chính là một biến thể dày và dai của tremolite. Trọng lượng riêng là 2,9 – 3,02, độ cứng là 6.0 – 6,5, và chiết suất là 1,62 – 1,655. Các màu trắng, xanh, vàng, đỏ, đen, v.v. Cẩm thạch là một tập hợp dạng sợi của các khoáng chất natri aluminosilicat trong nhóm pyroxene. Trọng lượng riêng là 3,33, độ cứng là 6,5 – 7.0 và chiết suất là 1,66. Các màu xanh lá cây, tím, lam lục, đỏ, xanh dương, vàng, đen, v.v.

Câu 10: Tại sao cẩm thạch lại dần thay thế bạch ngọc?

Trả lời: Hoa Hạ là một dân tộc yêu ngọc và có lịch sử 7000 năm văn hóa ngọc. Từ khi cẩm thạch du nhập vào Trung Quốc cách đây hàng trăm năm, họ đã thay thế ngọc cổ (bạch ngọc) không thương tiếc và bị ám ảnh bởi cẩm thạch, đẩy văn hóa ngọc học lên một tầm cao mới. Điều này là do màu xanh lục của cẩm thạch là màu chính của tự nhiên, đại diện cho tuổi trẻ, sự vươn lên và cho sự sống. Hơn nữa, màu xanh lục rất bí ẩn và sâu sắc, khó đoán, tinh tế và trang trọng, tinh khiết và uyển chuyển. Nó mang lại cho con người cảm giác thịnh vượng, yên bình và tĩnh lặng. Nó đại diện cho một khao khát, một sự nuôi dưỡng, một sự hài lòng, một sức mạnh bất khả chiến bại của thiên nhiên. Nó đã nâng tầm triết học, dạy con người “trị ngọc bằng đức” và cư xử như ngọc. Đây là sự kết hợp hoàn hảo giữa vật chất và tinh thần. Chính vì vậy, từ khi đưa cẩm thạch vào Trung Quốc, nó đã trở thành một món ăn mang tinh thần dân tộc, trên cơ sở kế thừa nền văn hóa bạch ngọc truyền thống, một nền văn hóa phỉ thuý hoàn hảo hơn đã ra đời, làm cho văn hóa và nghệ thuật phỉ thuý đạt tới đỉnh cao trên thế giới.

Câu 11: Cẩm thạch màu nào đẹp nhất?

Trả lời: Về màu sắc, màu đẹp nhất của cẩm thạch là xanh lý, thuý lục, xanh táo và xanh lá mạ. Sau đấy là lam lục, tử la lan, hồng phỉ, hoàng lục, vàng, xanh lam, xanh xám, v.v. Ngọc có năm màu được gọi là ngọc Ngũ Thải, và chúng cũng rất hiếm. Nhưng màu này phải kết hợp với màu xanh, đế tốt, nước tốt, ít nứt và tạp chất thì mới được coi là trân bảo.

Câu 12: Màu xanh lục của ngọc lục bảo đến từ đâu?

Trả lời: Cẩm thạch có màu lục là do Chromium trioxide có trong nó. Ngoài màu xanh lục quý giá nhất, phỉ thuý còn tạo ra màu lam, xanh vàng, tím, đỏ, vàng, đen và các màu khác, bắt nguồn từ các nguyên tố sắt, mangan, sắt, v.v.. Tuy nhiên, các nguyên tố gây màu này có hại cho màu xanh lục do Cr tạo ra, khi chúng phản ứng với nhau sẽ sinh ra các vệt khói (các mảng màu xám) trên ngọc.

Câu 13: Sắc Căn là gì?

Trả lời: Trên một món trang sức phỉ thuý, có một ít hoặc một dải màu đậm hơn, từ màu đậm này chuyển dần sang màu nhạt hơn, đó gọi là Sắc Căn. Sắc Căn là dấu hiệu để đánh giá độ thật của ngọc, nhưng loại thượng phẩm của thượng phẩm có màu xanh rất đều, khó thấy được Sắc Căn.

Câu 14: Long chủng là gì?

Trả lời: Long chủng (Long Thạch chủng) có nghĩa là ngọc có màu sắc đồng nhất, màu nước đồng màu với đế. Màu sắc không đậm cũng không nhạt và không thể nhìn thấy điểm bắt đầu của nước màu (Sắc Căn), được bao quanh bởi một viền dạ, tựa như có hào quang. Nước ngọc đạt tới thủy tinh, cực kỳ ẩm, tựa như một giọt nước thật sự. Chất ngọc không có tạp chất, hoàn toàn trong suốt. Đây là loại phỉ thuý có chất lượng cao nhất.

Câu 15: Ngọc Ngũ Thải là gì?

Trả lời: Ngọc Ngũ Thải được gọi là ngọc đa sắc với hơn bốn màu trên một miếng ngọc. Chẳng hạn như xanh lục, tím, lam, trắng, vv, khi đánh giá, ngoài các điều kiện khác, điều kiện chính là lượng màu xanh lục và chất lượng của nước. Nếu xanh lục chiếm một tỷ lệ lớn và nước tốt thì loại ngọc đa sắc này rất có giá trị.

Câu 16: Xuân Đái Thải là gì?

Trả lời: “Xuân” là nói đến màu tím đỏ của cẩm thạch. Màu tím còn được gọi là Tử La Lan. “Thải” đại diện cho màu chính lục. “Xuân Đái Thải” ý nói đến màu tím và lục cùng xuất hiện trên một miếng ngọc. Hiện nay, cẩm thạch có sắc tím rất khan hiếm. Vào năm 1991 – 1992, mỏ Khải Tô khai thác được nguyên liệu có tím, có lục, nước tốt nhưng mất nửa năm mới hoàn thành khai thác. Vậy nên phỉ thuý màu Xuân Đái Thải rất có giá trị.

Câu 17: Tân Khanh, Lão Khanh là gì?

Trả lời: Còn được gọi là Lão Xưởng, Tân Xưởng v.v … Trong các mỏ ngọc, tất cả trầm tích do nước sông vận chuyển đến lắng đọng xuống đều được gọi là Lão Khanh. Những “nguyên nham” có sẵn trong mỏ được gọi là Sinh Căn Thạch, được gọi là Tân Khanh. Trong mỏ, chúng thường được gọi là Lão Khanh và Tân Khanh, còn ở ngoài mỏ, chúng được gọi là chủng mới và chủng cũ, có thể nhận biết chính xác bằng mắt thường. Lão Khanh có chất lượng tốt, Tân Khanh có chất lượng kém.

Câu 18: Chủng là gì?

Trả lời: Chủng đề cập đến kết cấu và cấu tạo của ngọc cẩm thạch, là một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng, gồm hai loại: Chủng mới (còn được gọi là Tân Khanh, Tân Xưởng, v.v.) có kết cấu lỏng lẻo, kích thước hạt thô hơn và độ dày không đồng đều, hàm lượng tạp chất nhiều hơn, lượng vết nứt lớn hơn, chất ngọc không nhất thiết phải đục, độ cứng tương đương. Chủng cũ (còn được gọi là Lão Khanh, Lão Xưởng, v.v.) có cấu trúc mịn, cảm giác chặt chẽ, kích thước hạt nhỏ, đều, mật độ cao, không nhiều các vết nứt nhỏ. Nó có độ cứng cao và là chất ngọc tốt.

Câu 19: Nước là gì?

Điềm Lục, nước băng

Trả lời: Nước của cẩm thạch là chỉ độ trong suốt của nó, còn được gọi là thủy đầu. Nước của cẩm thạch có liên quan đến cấu trúc của nguyên liệu và chủng. Nó cũng liên quan đến hàm lượng của các tạp chất, những loại nước của cẩm thạch chủng cũ, ít tạp chất, kích thước hạt đồng đều và độ tinh khiết cao là tốt.

Chú thích: Thường được gọi là chủng, gồm: thuỷ tinh (thuỷ/ kính); cao băng; băng; sứ (băng nhu/ nhu băng); nếp.

Câu 20: Trường Khẩu là gì?

Trả lời: Trường Khẩu là mỏ khai thác cẩm thạch. Vùng/ khu khai thác cẩm thạch ở Miến Điện còn được gọi là Quáng Khu hoặc Trường Khu, được chia thành sáu khu và mỗi Trường Khu được chia thành nhiều Trường Khẩu. Hình dáng, chất lượng và màu sắc của ngọc được khai thác ở mỗi vùng có những đặc điểm riêng. Dựa vào đặc tính riêng của mỗi loại ngọc từ các vùng, mỏ khác nhau, người ta quan sát và phán đoán giá trị mỗi viên ngọc.

Các vùng được chia thành Lão Trường Khu, Tân Trường Khu và Tân Lão Trường Khu. Sáu khu gồm:

Lão Trường Khu, (còn được gọi là Lão Khanh, Lão Xưởng)

① Khu Phạ Cương với hơn 28 mỏ nổi tiếng bao gồm Hôi Ca, Mộc Na, Đại Cốc Địa, Tứ Thông Ca và Mạt Cảm.

② Khu Mộc Khảm, có hơn 14 mỏ nổi tiếng như Đại Mộc Khảm, Tước Bính, Hoàng Ba, v.v.

③ Khu Nam Kì, có 9 mỏ nổi tiếng bao gồm Nam Kì và Mạc Hãn.

④ Khu Hậu Giang, có hơn 5 mỏ nổi tiếng bao gồm Hậu Giang, Lôi Đả Trường, Gia Mạc và Mộ Thủ Quách.

Tân Trường Khu, (còn gọi là Tân Khanh mới Tân Xưởng)

⑤ Có hơn 11 mỏ nổi tiếng như Mã Tát Xưởng, Khải Tô, Độ Vi, và Mục Loạn Cương.

Tân Lão Trường Khu (còn gọi là Tân Lão Xưởng)

⑥ Các mỏ nổi tiếng bao gồm Long Đường, v.v.

Câu 21: Khai Môn Tử là gì?

Trả lời: Khai Môn Tử, còn gọi là Khai Thiên Song. Ngọc thô thường bị bao phủ bởi một lớp bì, không thể biết chất lượng của phôi, một phần của lớp da sẽ bị cắt rời để quan sát, đó là Khai Môn Tử. Dùng giũa hoặc phiến đá để bóc lớp bì cho đến khi phần ngọc xuất hiện và xem xét chất lượng. Tuy nhiên, cắt bỏ hoặc mài mỏng một điểm trên phiến đá chỉ có thể phán đoán chất lượng của một phần chứ không phải cả viên. Đây là một kỹ thuật rất khó và có rủi ro cao, vậy nên nó yêu cầu người thực hiện cần có kỹ thuật cao và khả năng phán đoán tốt.

Không có Khai Thiên Song

Câu 22: Vụ (sương) là gì?

Da của sương muối

Sương đề cập đến một loại cẩm thạch bị bán ôxy hóa, bị phong hóa nhẹ giữa lớp bì (bị phong hóa hoặc bị ôxy hóa) và bên trong (không bị phong hóa hoặc bị ôxy hóa). Về bản chất, sương cũng là một phần của ngọc bởi nó là vùng chuyển tiếp từ lớp vỏ phong hóa sang lớp thịt không bị phong hóa (phỉ thuý). Màu sắc và sự hiện diện của sương có thể cho biết lượng tạp chất trong, chủng, độ trong và sạch, v.v. Nhưng nó không cho biết sự xuất hiện của màu xanh lục và nó cũng không liên quan gì đến màu xanh. Sương được chia thành trắng, vàng, đỏ, xám, đen, v.v.

Khi bì bong ra và thấy một lớp màu trắng nhạt, đó gọi là *sương muối. Sương muối cho biết thịt ngọc có ít tạp chất và có độ trong nhất định, nếu có màu xanh lục dưới lớp sương muối thì đó là viên phỉ thuý giá trị liên thành. Sương muối cũng là dấu hiệu của chủng cũ, vậy nên hầu hết người chơi thích

Sương vàng

*Sương vàng cho thấy sắt và các nguyên tố khác trong đó đang dần bị oxy hóa, nhưng chưa nghiêm trọng. Nếu là màu vàng nhạt, nó cho thấy bên trong có ít tạp chất và phỉ thuý chất cao thường xuất hiện, nhưng đôi khi cũng có thể thu được màu lam lục do ion sắt tạo ra, và màu lam lục nghiêng lục, màu xanh lục cũng có thể xuất hiện.

*Sương đỏ cho thấy sắt trong nó đã bị oxy hóa nghiêm trọng, và đế có thể xuất hiện màu xám.

Khói

Khói thể hiện quá trình oxy hóa của một số lượng lớn các nguyên tố, điều này cho thấy ngọc có nhiều tạp chất, kém trong suốt. Trong một số trường hợp, khói cũng có thể xuất hiện xanh lục, nhưng nước rất kém.

Không phải tất cả các phôi ngọc đều có sương, một số mỏ sản xuất ra phôi không có nó. Nói chung, nguyên liệu có thể tạo ra sương hầu hết được khai thác trong mỏ Lão Khanh tới các mỏ Tân Lão Khanh.

Câu 23: Tiển là gì?

Trả lời: Tiển là những mảng, dải màu xám đen bên ngoài bề mặt hoặc bên trong của cẩm thạch, có hình dạng và kích thước khác nhau. Thành phần chính của chúng là Hornblende, đá phiến xanh Amphibole (amphibole schist), Chromite và một số loại Oxides. Chúng có mối quan hệ ái lực với các ion Chromite gây màu vậy nên những khoáng vật đen chứa quặng Cr trong Tiển liên tục giải phóng các ion gây màu, làm cho cẩm thạch có màu xanh lục trong điều kiện thích hợp. Có thể nói, Tiển có quan hệ mật thiết với màu xanh lục. Dân gian có câu “Hắc Tuỳ Lục Tẩu” hay “Tiển Cật Lục” là để nói về mối liên hệ chặt chẽ ấy. Tuy nhiên, những trường hợp có Tiển nhưng không có xanh hay có xanh thì có thể không có Tiển vẫn tồn tại. Để lý giải cho sự hi hữu này, các nhà địa chất cho rằng Tiển và xanh còn tùy thuộc vào môi trường và thời gian hình thành Tiển, trong Tiển có chứa Cr không và các yếu tố khác. Vì vậy, dân gian chia thành “Tử Tiển”, “Hoạt Tiển”.

Trong quá trình hình thành ngọc, các chuyển động địa chất tiếp theo và nhiều hoạt động thủy nhiệt, môi trường địa chất chứa Cr có thể làm cho cẩm thạch có màu xanh lục. Tiển có thể không xuất hiện trong quá trình này vậy nên chúng sẽ không có nhiều liên quan đến màu xanh của ngọc. Mặt khác, nếu Tiển cộng sinh với ngọc trong quá trình hình thành, nó sẽ tạo điều kiện có lợi cho môi trường đất và các hoạt động thuỷ nhiệt của quá trình giải phóng Cr, Tiển (bên trong) sẽ tiếp tục tạo màu cho ngọc cho đến khi sự thay đổi của địa chất gây bất lợi cho nguyên tố kích thích, quá trình “nhuộm” sẽ dừng lại và tạo ra hiện tượng “Hắc Tuỳ Lục Tẩu” hay còn gọi là “Hoạt Tiển”.

Nếu sau khi quá trình hình thành cẩm thạch hoàn thiện, Tiển mới được sinh ra thì nó sẽ được gọi là “Tử Tiển”. Căn cứ vào mối quan hệ giữa Tiển và xanh của phỉ thuý hay cấu tạo và ngoại hình, người ta có thể phán đoán đâu là Hoạt Tiển, Tử Tiển.

Mối quan hệ giữa Tiển và màu xanh cũng có thể tách rời, dù chúng rất khó tách biệt. Chúng dần trải qua quá trình chuyển đổi hoặc tồn tại giới hạn rõ ràng, chúng cách nhau một đoạn và tự tồn tại có 3 loại: đôi khi có tùng hoa cạnh Tiển, thể hiện việc có màu xanh nhưng hình dạng và số lượng không thể đoán trước.

Câu 24: Mãng là gì?

Trả lời: Trên biểu bì của nguyên liệu cẩm thạch có hiện tượng biểu bì đồng dạng một màu, bị phong hoá hoặc bán phong hoá, có hạt, vân dạng khối, dải. Nó chứng tỏ phôi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự phong hoá và biến đổi thuỷ nhiệt, làm cho quá trình giải phóng Cr diễn ra và tạo màu xanh lục. Nơi nào có dải chưa chắc đã có màu xanh, ở đó phải có hoa thông để chứng tỏ rằng có thể có màu xanh trong đó. Mãng cho biết chủng lão, thường đồng nghĩa với màu lục, và hướng vân phần lớn là do các vết nứt ban đầu chứa các ion Cr.

Câu 25: Hoa thông là gì?

Trả lời: Hoa thông là các dải màu, giống như rêu khô, có thể nhìn thấy trên lớp biểu bì của cẩm thạch. Nó là dấu vết của quá trình phong hóa trên vật liệu thô. Dựa vào độ đậm nhạt, hình dạng, hướng, số lượng và mật độ của hoa thông, người ta có thể suy ra độ sâu, hướng, kích thước và hình dạng của màu xanh lục trên ngọc. Khi quan sát cần làm ướt và nghiên cứu kỹ nguyên liệu.

Câu 26: Nứt là gì? Phôi bị nứt có sao không?

Trả lời: Nứt là hiện tượng tự nhiên của cẩm thạch. Các vết nứt được chia làm hai loại: nứt được hình thành cùng lúc với phôi (nứt nguyên sinh) và nứt được tạo ra khi quá trình hình thành ngọc đã kết thúc (nứt hậu sinh). Một số khe nứt nguyên sinh có thể được sửa chữa bằng phương pháp nhân tạo. Hầu hết các vết nứt hậu sinh có thể nhìn thấy rõ ràng bằng mắt thường. Các vết nứt có thể được chia thành nứt lớn, nứt nhỏ, lõm, nứt mảnh, v..v.. Một số vết nứt cắt ngang dải màu, một số dải màu là chính vết nứt được lấp đầy bởi màu xanh lục. Mật độ nứt và cách chúng phân bố sẽ ảnh hưởng đến quyết định chế tác và giá trị viên ngọc.

Chú thích của người dịch: đường nước là một loại nứt bên trong ngọc, có tên khác là nứt âm, nứt trong. Nứt âm (kích thước nhỏ) thường không ảnh hưởng quá nhiều đến ngoại hình của sản phẩm, nhìn được, không sờ được, khi chế tác cần cẩn thận để không cắt phải nứt trong, khiến nó thành nứt ngoài.

Câu 27: Du Thanh là gì?

Trả lời: Du Thanh là một loại cẩm thạch có kết cấu mịn, độ trong mờ giống như dầu. Có hai loại. Thứ nhất là tông xanh tối, nước rất tốt, thông đèn ra tông xanh xám, không có màu lục. Thứ hai là tông lam lục, thông đèn có xanh, nước tốt. Thông qua phân tích, phỉ thuý Du Thanh loại thứ nhất không chứa Cr mà chứa hơn 1% các ion sắt. Loại Du Thanh thứ hai chứa một lượng Cr và sắt. Ngoài ra, có một loại “cẩm thạch” Du Thanh khác, màu của nó cũng giống như màu Du Thanh, có màu lục tối và nước tốt, độ cứng chỉ 5.5 – 6.0, trọng lượng riêng và chiết suất rất khác với cẩm thạch. Nó chủ yếu chứa pyroxene, không chứa Cr, chứa sắt, nên được gọi là ngọc lục huy thạch (ngọc pyroxene) hoặc phỉ thuý lục huy thạch.

Câu 28: Loại A, B và C của cẩm thạch là gì?

Trả lời: Cẩm thạch loại A là loại ngọc tự nhiên nguyên chất, chỉ mới được chạm khắc và đánh bóng. Về mặt lý thuyết, loại A dùng để chỉ loại cẩm thạch nguyên chất tự nhiên, chưa được xử lý bằng các phương pháp vật lý hoặc hóa học để làm hỏng cấu trúc bên trong của nó.

Loại B là tiêu chuẩn cho phụ kiện do quốc gia ban hành, và cẩm thạch được tối ưu hóa bằng cách tẩy trắng bằng axit trong quá trình xử lý. Theo cường độ tẩy rửa axit có thể chia làm hai loại: ăn mòn mạnh và ăn mòn yếu. Cẩm thạch bị ăn mòn mạnh gọi là hàng B không keo. Bên trong của nó đã bị hư hại nặng nề. Còn loại chứa đầy keo đã trải qua quá trình ăn mòn và tẩy trắng bằng axit mạnh để loại bỏ chất lượng kém hơn trong quá trình xử lý. Cấu trúc bên trong bị hư hại nghiêm trọng, sau đó được tiêm polyme keo chống phản xạ và hợp nhất để lấp đầy sản phẩm. Bất kể cẩm thạch được không keo hay được làm đầy bằng keo, nó được coi là phương pháp xử lý phá hủy ngọc, tức là loại B. Ngọc có chứa keo và được xử lý màu và đồ trang sức bằng phỉ thuý có hoặc không có phun keo thông qua nhúng axit, chất tẩy trắng và chất tạo màu được gọi là loại B + C.

Loại C là cẩm thạch được nhuộm. Bất kể nó được tẩy trắng bằng axit hoặc bơm keo, tất cả các loại cẩm thạch được tiêm màu đều được gọi là hàng C. Hiện nay, xu hướng mới trong các phương pháp xử lý cẩm thạch là sau khi xử lý bằng axit mạnh, bên trong không bơm keo mà được bơm sáp. Ngoài ra, silica cũng được sử dụng để lấp đầy phỉ thuý với kết quả rất tốt, nhưng ít người biết đến. Ngoài ra còn có các vật liệu nhôm và silic ở quy mô nano chứa trong ngọc, được gọi là loại B cao cấp.

Câu 29: Ngọc 83 là gì?

Trả lời: Ngọc 83 là một loại ngọc cẩm thạch mới xuất hiện ở khu vực sản xuất phỉ thuý của Myanmar vào năm 1983. Nó là một loại vật liệu gạch cấp thấp, khô nước, đáy kém, cấu trúc lỏng lẻo và tinh thể thô. Tất cả hàng B hoặc cẩm thạch nhuộm loại C được tạo ra từ nguyên liệu gạch vô giá trị nếu nó không được xử lý nhân tạo. Nó là một loại cẩm thạch khác, thành phần khoáng chất và quang học vật lý của nó có ba yếu tố giống như phỉ thuý bình thường. Tuy nhiên do cấu trúc lỏng lẻo và tinh thể thô nên sau khi xử lý axit dễ có thể thay đổi độ trong, dễ bơm chất làm đầy và nhuộm màu. Sau khi xử lý, sản phẩm có nước tốt hơn và giá thành rẻ.

Câu 30: Nguyên liệu Chuyên Đầu là gì?

Trả lời: Vật liệu Chuyên Đầu dùng để chỉ vật liệu có độ trong kém, nhiều tạp chất, có màu, có màu xanh lục hoặc không có màu xanh lục. Nguyên liệu Chuyên Đầu chỉ được dùng làm nguyên liệu thô cấp thấp cho hàng thủ công du lịch tính bằng kilôgam. Nguyên liệu Hoa Bài dùng để chỉ một số chất liệu ngọc tầm trung có một chút màu xanh lá, xanh lục hoa, có chút nước, hoặc không có màu xanh lục nhưng nước tốt. Nguyên liệu Sắc dùng để chỉ nguyên liệu có thể làm phỉ thuý cao cấp. Nguyên liệu thô của cẩm thạch với màu xanh lục lớn còn được gọi là Sắc liệu. Chất liệu Chuyên Đầu hoặc chất liệu Hoa Bài, chất liệu Sắc sẽ thay đổi nhân tạo trong quá trình chế tác.